EnglishVietnamese
Giỏ hàng 0

Giỏ hàng mini

Hiện bạn không có sản phẩm nào trong giỏ hàng.
Vào giỏ hàng

Thời gian đăng: 29-04-2020 21:15 | 65 lượt xemIn bản tin

Xây dựng công thức vượt trội, tối ưu hóa chất lượng thịt cùng với ValiMP+

Bất kỳ ai liên trong ngành chăn nuôi heo đều có mối quan tâm riêng về chất lượng thịt. Thực chất, đối với người tiêu dùng, lượng mỡ trực quan là tiêu chí hàng đầu khi họ lựa chọn.

______________________________________________________________________________                    

Nghiên cứu được thực hiện bởi đội ngũ kỹ thuật Heo của IDENA, Pháp. Idena.fr

__________________________________________________________________________________

Những người chăn nuôi heo, trên khắp thế giới, đều muốn giảm thiểu chi phí sản xuất, chẳng hạn bằng cách tăng hiệu quả của thức ăn chăn nuôi. Và vì để tích 1kg thịt nạc, heo cần sử dụng khoảng 5000 KCal, trong khi tích 1 kg mỡ đòi hỏi khoảng 9000 Kcal, vật nuôi tiết kiệm được nhiều calo nhờ tích cơ hơn là tích mỡ; vì vậy người chăn nuôi ngày càng quan tâm đến việc nâng cao chất lượng thịt bởi điều đó mang lại hiệu quả kinh kế cao hơn.

Ở một số quốc gia, người chăn nuôi được trả thù lao nếu như thịt của họ có chất lượng tốt (ví dụ, ở  Pháp, G2 là độ dày mỡ lưng, M2 là cơ thịt, TMP là phần trăm thịt nạc , Hình ảnh 1)

Hình ảnh 1. Ví dụ về phương pháp đo chất lượng thịt của Pháp (G2, M2, TMP).

Đối với người sản xuất thức ăn chăn nuôi, mục tiêu dài hạn của họ là đáp ứng nhu cầu tăng hiệu quả thức ăn của người chăn nuôi. Cuối cùng, lò mổ và những người chế biên luôn muốn đạt năng suất thân thịt cao, dễ dàng chế biến cùng với tính đồng nhất của tỷ lệ nạc. Hiệu suất của những thiết bị giết mổ cũng được trú trọng nâng cao. Vì vậy, nhìn chung, tỷ lệ cơ bắp (và tỷ lệ protein) ảnh hưởng nhiều đến lợi nhuận của toàn ngành chăn nuôi heo. Với cùng một nguồn nguyên liệu, việc tạo ra tỷ lệ thịt cao hơn trên cùng một thân thịt là hướng phát triển bền vững.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thân thịt. Giống heo (tiềm năng tạo cơ, lượng thức ăn tiêu thụ, sinh trưởng quá nhanh,…), quản lý chuồng trại và những yếu tố trong trại (nhiệt độ, nhóm máu,…), điều kiện vệ sinh (thoáng khí, áp suất...) là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến độ dày mỡ lưng và chất lượng thân thịt (Hình ảnh 2).

Hình ảnh 2. Các yếu tố ảnh ưởng đấn chất lượng thân thịt

Công thức thức ăn chăn nuôi cũng rất quan trọng, mục tiêu đầu tiên của những người làm dinh dưỡng là xây dựng nên những công thức đáp ứng tốt nhất có thể nhu cầu dinh dưỡng của heo giai đoạn vỗ béo cho từng giai đoạn phát triển. Họ cũng cần phải tính đến nhu cầu năng lượng và axit amin nhằm thúc đẩy quá trình tạo cơ bắp.

Ví dụ, những chuyên gia dinh dưỡng của IDENA khuyến cáo trung bình 3.5 gram lysine tiêu hóa/1000 Kcal năng lượng  và từ 0.84% (giai đoạn phát triển) đến 078% (giai đoạn kết thúc) lysine tiêu hóa trong thức ăn, tùy thuộc vào điều kiện chăn nuôi và nguyên liệu thô có sẵn tại mỗi quốc gia.

Ngoài công thức dinh dưỡng, lượng thức ăn cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng thịt. Đó là lý do tại sao mà một số trại chăn nuôi quy mô lớn đôi khi thay thế hệ thống cho ăn tự do bằng hệ thống cho ăn theo khẩu phần, điều này cũng mang lại thách thức rằng người chăn nuôi khó có thể đảm bảo tăng trưởng cho vật nuôi.

Chỉ số chuyển đổi chất lượng thức ăn và lượng thức ăn thành cơ bắp cũng phụ thuộc phần lớn vào những yếu tố phi dinh dưỡng khác.

Giới tính của vật nuôi cũng đóng vai trò trung tâm; vào năm 2007, theo nhà khoa học Nathalie Quiniou của Viện Nghiên cứu Heo thuộc Viện Ngiên cứu Nông học Quốc gia của Pháp, lượng thức ăn ăn vào giữa heo cái và heo đực thiến biến thiên hơn 20% sau 140 ngày, vì thế heo đực thiến có xu hướng bị mỡ lưng dày hơn.

Thiết bị Image Meater (của CBS System AG), được phát triển bởi UNIPORC tại Pháp, chỉ ra rằng heo đực thiến có độ dày mỡ lưng cao hơn heo cái là 2.2mm, và trọng lượng càng cao thì độ chênh lệch càng lớn, theo dữ liệu của UNIPORC Ouest 2014. Bên cạnh đó, heo cái có độ dày cơ bắp cao hơn heo đực thiên 3.3mm, dẫn tới dự chênh lệch về tỷ lệ thịt nạc ở 2 giới tính : 1.7 points (TMP). Những điều trên đặt ra thách thức cho ngành chăn nuôi, cần phải giảm thiểu sự chênh lệch này giữa 2 giới.

Heo có xu hướng tích mô mỡ nhanh hơn sau 60 ngày

Hiện tượng tích thường tăng ở giai đoạn cuối (Finishing), đây cũng là giai đoạn quan trọng để tối ưu chi phí thức ăn. Đó là giai đoạn mà heo càng tăng tích mơ, tỷ lệ tích cơ càng giảm. Thật vậy, sau khi tiêu hóa, cơ thể vật nuôi sử dụng dinh dưỡng trong thức ăn theo cơ chế luân chuyển liên tục. Việc sử dụng axit amin và những nguồn năng lượng (Carbohydrate, axit béo Lipoprotein tỷ trọng thấp (axit béo LDL)) được bắt đầu từ gan và tiếp tục “cung cấp” cho tế bào mỡ. Tuy nhiên, xu hướng của quá trình này thay đổi theo độ tuổi và cân nặng của heo.

Ở giai đoạn đầu, quá trình này nghiêng về tích cơ. Quá trình tích cơ bắt đầu sớm và tăng mạnh trong giai đoạn 15-55kg. Khi heo đạt đến 60kg, trao đổi chất đạt tới mức bão hòa, dẫn tới tăng tích mỡ và giảm tích cơ.

Quả thật, trong quá trình sử dụng dinh dưỡng, vật nuôi có xu hướng tích mô mỡ. Hiện tượng sinh lý này vẫn xảy ra dù cho những kỹ thuật chăn nuôi như điều chỉnh công thức, chế độ ăn theo khẩu phần, điều kiện chuồng trại... có được áp dụng đi chăng nữa.

Xu hướng đảo ngược

Để đảo ngược quá trình trao đổi chất này, Idena đã phát triển giải pháp độc quyền ValiMP, kết hợp giữa những đồng yêu tố enzym và chiết xuất thực vật. Giải pháp ValiMP mang lại hiệu quả tăng tích cơ, hạn chế tích mô mỡ cho heo giai đoạn vỗ béo từ 60kg trở lên.

Đầu tiên, giải pháp này giúp tránh hiện tượng khử chuỗi peptide và axit amin sau khi những cuối carbon (đã bị khử này) được hấp thụ. Hiệp tượng những chuỗi carbon bị khử và bị hấp thụ sẽ làm giảm tích cơ và dẫn đến tiêu hao năng lượng quá mức.

Hơn nữa, ValiMP còn hạn chế hiện tượng axit béo trong khẩu phần ăn tích tụ nhiều trong mô mỡ, từ đó hạn chế lượng chất béo tích trong tế bào mỡ (hướng Acetyl-coA quay lại quá trình Krebs thay vì tham gia vào quá trình sản xuất ra axit béo).

Hệ thống cho ăn tự do (ăn liên tục), cộng với việc heo ăn nhanh và ăn nhiều dẫn đến tình trạng heo nạp vào cơ thể nhiều carbolydrate. Carbohydrate trong máu đến từ năng lượng trong thức ăn, và từ quá trình khử đạm trong thức ăn.

Tác động của ValiMP lên các mô mỡ được nghiên cứu và quan sát dưới mô hình phần tích nguyên bào mỡ trong phòng thí nghiệm thông qua :

  • Giảm tích mỡ trong các tế bào mỡ khi bổ sung thêm ValiMP (Hình ảnh 3)
  • Giảm biểu hiện gene về khả năng tích mỡ (PPAR, CEBP, SREBP)
  • Giảm biểu hiện gene tích mỡ trong các tế bào mỡ (LPL, FABP tuần theo quy trình hấp thụ của những axit béo trong tế bào mỡ, hoặc sự phát triển của tế bào mõ).
  • Quá trình phosphoryl hóa hoặc khử phospho của enzyme chìa khóa có ảnh hướng tới quá trình tổng hợp lipid (vô hiệu hóa ACC và AMP).

Hình ảnh 3. Mức độ tích lipid được đo bằng thuốc nhuộm Oil Red O, với liều dùng ValiMP khác nhau (Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, tại trường Đại học Hàn Quốc). Hình ảnh tiêu biểu cho những tế bào 3T3-L1 được xử lý với 0.05%, 0.1% và 0.2% ValiMP trong suốt thời kỳ tích mỡ. Oil Red O đã được trích xuất sau khi nhuộm, sau đó nồng độ đo được là 595 nm.

Kết luận, ValiMP giúp hạn chế cơ chế “tích mỡ” trong gan (làm giảm quá trình tích mỡ) và điều hòa quá trình tích tụ chất béo trong tế bào mỡ.

Chính vì vậy, thức ăn càng giàu dinh dưỡng (đặc biệt là những công thức TA có năng lượng cao, chế độ cho ăn tự do, liên tục), càng tăng khả năng tạo thịt nạc của ValiMP, với chỉ số chuyển đổi thức ăn tối ưu hơn và tăng trọng hằng ngày ADG cao hơn; nếu như ValiMP được sử dụng đủ sớm trước khi heo bước vào giai đoạn tích nhiều mỡ).

Hiệu quả cụ thể trên chế độ cho ăn tự do, liên tục

Tác dụng của ValiMP đã được nghiên cứu trong nhiều thử nghiệm khoa học và thử nghiệm thực tế, thực địa. Hai mức đo lường đã được những nhà dinh dưỡng của Idena nghiên cứu : hiệu suất kỹ thuật chăn nuôi tại trại (sinh trưởng, hiệu quả thức ăn), hiệu suất chất lượng thân thịt tại lò mổ, với tiêu chuẩn đo lường chất lượng thân thịt của Pháp và châu Âu: mỡ lưng (G2), cơ bắp (M2), TMP (% thịt nạc), xếp hạng chất lượng than thịt (E-U-R-O-P)…

Kết quả được tổng hợp trong hình ảnh 4. Chính vì vậy, ValiMP giúp tăng trọng lương phần thân thịt được sản sinh ra mà không làm giảm chất lượng của cơ thịt, đem lại lợi ích kinh tế cao hơn.

Hình ảnh 4. Tổng hợp kết quả thử nghiệm ValiMP so với nhóm đối chứng, chế độ cho ăn liên tục, tự do.

Hiệu quả được khẳng định đối với chế độ cho ăn cụ thể, không liên tục

Rõ ràng rằng, với hàm lượng carbohydrate cao, đến từ chế độ cho ăn tự do, liên tục, ValiMp càng có khả năng phát huy tác dụng cao hơn, như đã được miêu tả trong biểu đồ tổng hợp bên trên.

Chính vì thế, chuyên gia dinh dưỡng của Idena đã thiết kế một thử nghiệm tập trung tại viện IFIP (Viện Nghiên cứu chăn nuôi heo của Pháp), để kiểm chứng tác động của ValiMP đối với những mức độ trao đổi chất khác nhau, một khi mọi chỉ số công thức và chỉ số tiêu hóa đều đạt ngưỡng lý tưởng, trên lý thuyết cũng như thực tế tại trại. Quả thật, xác định chỉ số cho ăn cụ thể giúp lượng thức ăn ăn vào được điều chỉnh theo nhu cầu dinh dưỡng trên lý thuyết của mỗi giống heo. Trại sử dụng hình thức cho ăn 2 pha được điều chỉnh theo những khuyến cáo nghiêm ngặt. Chính vì vậy, hai loại thức ăn được trộn lẫn với nhau, và số lượng thức ăn cũng được điều chỉnh tăng và giảm tùy theo trọng lượng của heo, để đáp ứng chính xác nhu cầu dinh dưỡng của heo từng ngày trong quá trình sinh trưởng.

Trong điều kiện chăn nuôi tập trung với chế độ cho ăn được xác định rõ ràng, tác động của ValiMP đối với hiệu suất kỹ thuật chăn nuôi và hiệu suất chất lượng thân thịt đã được nghiên cứu kỹ lưỡng trên 48 heo (24 heo đực thiến và 24 heo nái), trong điều kiện chăn nuôi hạn chế lượng thức ăn ăn vào (chế độ ăn được xác định rõ).

Những thông số sau đây đã được ghi lại tại thời điểm giết mổ, và tất cả heo đều được giết mổ cùng ngày : hiệu suất kỹ thuật chăn nuôi được đánh giá theo trọng lượng của mỗi con heo được cân 3 tuần 1 lần, lượng tiêu thụ thức ăn hạn chế và chính xác; những chỉ số về chất lượng thân thịt như TMP (% nạc), G2 (mỡ lưng) và M2 (cơ bắp).

Hiệu suất kỹ thuật chăn nuôi giữa 2 nhóm là tương đương, điều này đã được dự đoán từ trước, khi xem xét đến điều kiện chăn nuôi hạn chế lượng thức ăn ăn vào (chế độ ăn được xác định rõ). Tuy nhiên, hiệu suất chất lượng thân thịt cao hơn đối với nhóm sử dụng ValiMP, điều này chỉ ra rằng VaiMP có tác động đến quá trình trao đổi chất, và không tác động lên tiêu hóa : tăng 0.7kg trọng lượng phần thân thịt, tăng 0.5 điểm % thịt nạc nhờ vào giảm tỷ lệ mỡ lưng G2 (giảm 0.4), mà không làm giảm năng suất, ngoài ra còn giúp tăng tỷ lệ cơ bắp M2 (tăng 1.8).

Việc phân tích kế quả theo giới tính giúp giải thích sự khác biệt trong bảng trước đó. Trên heo nái, chúng ta có thể nhận thấy hiệu suất được cải thiện trên nhóm sử dụng ValiMP, cụ thể là tỷ lệ mỡ lưng giảm và tỷ lệ cơ bắp tăng. Trên heo đực, hiệu suất của nhóm sử dụng ValiMP thậm chí còn cao hơn, nhờ vào sự tăng mạnh của tỷ lệ cơ bắp và sự giảm của tỷ lệ mỡ lưng. Trên cả 2 giới, năng suất đều được cải thiện nhờ có ValiMP (tăng 0.4 điểm).

Việc bổ sung ValiMP trong thức ăn của heo giai đoạn vỗ béo giúp cải thiện chất lượng thân thịt: tăng 1.8mm cơ bắp,  giảm 0.4mm mỡ lưng.

Bảng 1. So sánh hiệu suất kỹ thuật chăn nuôi và hiệu suất thân thịt theo việc bổ sung ValiMP hoặc không bổ sung ValiMP, trong điều kiện hạn chế, xác định rõ chế độ cho ăn.

 

Nhóm đối chứng

Nhóm sử dụng ValiMP

Trọng lượng ban đầu (kg)

58.1

58.5

Trọng lượng giết mổ (kg)

108.6

109.1

Tăng trọng hằng ngày ADG (g/ngày)

870

873

Lượng ăn vào trung bình hằng ngày (kg/ngày)

2.79

2.79

FCR giai đoạn kết thúc

3.23

3.21

Trọng lượng thân thịt (kg)

86.5

87.2

TMP/thit nạc (%)

61.7

62.2

G2 (mm)

12.4

12.0

M2 (mm)

59.0

60.8

Năng suất (%)

79.6

80.0

Bảng 2. Phân tích chi tiết theo theo giới tính của heo vỗ béo, trong điều kiện chăn nuôi hạn chế, chế độ ăn được xác định rõ

 

Nhóm đối chứng

Nhóm sử dụng ValiMP

Sự khác biệt

Heo nái

Heo đực thiến

Heo nái

Heo đực thiến

Heo nái

Heo đực thiến

Trọng lượng thân thịt (kg)

87.9

85.1

87.8

86.7

-0.1

+1.6

TMP (%)

62.6

60.8

62.9

61.6

+0.3

+0.8

G2 (mm)

11.4

13.4

11.0

12.9

-0.4

-0.5

M2 (mm)

60.3

57.8

60.6

61.0

+0.3

+3.2

Năng suất (%)

79.7

79.5

80.1

79.9

+0.4

+0.4

Vì vậy, chúng ta có thể kế luận rằng khi sử dụng ValiMP, heo đực thiến có chất lượng thân thịt tương đương với heo nái (xem bảng 1 và bảng 2).

Chính vì vậy, ValiMP là phụ gia thức ăn chăn nuôi an toàn và có nguồn gốc thiên nhiên, giúp người chăn nuôi heo nâng cao hiệu suất chăn nuôi và lợi nhuận bằng cách tăng tỷ lệ thịt nạc trên tổng trọng lượng thân thịt, từ đó tạo ra nhiều protein hơn đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của con người.

Tác dụng của ValiMP đã được kiểm chứng trong điều kiện cụ thể, xác định chế độ cho ăn cụ thể. Tác dụng của giải pháp này thậm chí còn rõ ràng hơn đối với chế độ cho ăn tự do, liên tục, chế độ mà người ta có thể dự đoán rằng ValiMP giúp tăng trung bình 1.2 điểm TMP (tương đương với việc tăng 4.5€/thân thịt tại thị trường Pháp). Liều dùng được khuyến cáo là 2.5kg/tấn thức ăn cho heo từ 60kg đến khi giết mổ. ValiMP không gây ảnh hưởng đến hình dạng thớ thịt cũng như chất lượng thịt, mà chỉ tác động lên trọng lượng thân thịt. Idena cũng nghiên cứu song song về chất lượng thịt theo cảm quan.

Để biết thêm thông tin, hãy gửi yêu cầu về hòm thư : contact@idena.fr

ValiMP+,chất lượng thân thịt,giảm mỡ lưng,IDENA,tvt,Tiến Việt Thái
Bình luận
Video Giới Thiệu
Video Giới Thiệu
Đối tác
  • upload/web/50/508329/slide/2018/05/20/09/26/152680838846.png
  • upload/web/50/508329/slide/2014/11/12/12/46/141577118566.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2018/05/20/09/24/152680826867.png
  • upload/web/50/508329/slide/2018/05/20/09/52/152680993811.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2018/05/20/09/26/152680836465.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2018/05/20/09/24/152680829276.png
  • upload/web/50/508329/slide/2018/05/20/09/25/152680832213.png
  • upload/web/50/508329/slide/2018/05/20/09/25/152680834488.png
  • upload/web/50/508329/slide/2014/11/12/12/51/141577150836.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2016/12/06/07/03/148100779381.png
  • upload/web/50/508329/slide/2014/11/12/05/20/141578762233.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2014/11/12/05/22/141578772157.png
  • upload/web/50/508329/slide/2014/11/05/09/34/141515487255.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2014/11/05/09/34/141515489462.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2014/11/12/05/21/141578770252.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2016/12/06/06/31/148100591664.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2016/12/06/04/35/148099891118.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2016/12/06/04/36/148099897638.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2015/09/07/01/57/14416090775.gif
  • upload/web/50/508329/slide/2015/09/07/01/58/144160910898.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2015/09/07/01/58/144160912549.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2015/09/07/01/59/144160914394.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2015/09/07/01/59/144160916558.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2016/12/06/06/31/148100590314.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2016/12/06/06/59/14810075504.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2014/11/05/09/35/14151549484.jpg
  • upload/web/50/508329/slide/2014/11/05/09/36/141515498726.jpg

Chat Facebook